mật độ cơ thể là gì?

Mật độ cơ thể là tỷ lệ chất béo trong cơ thể người, so với khối lượng chung của nó. Còn được gọi là thành phần chất béo cơ thể, nó được sử dụng như một công cụ để đánh giá bao nhiêu mô mỡ, cả cần thiết và thừa, tồn tại trong cơ thể. Kiến thức về mật độ cơ thể là một phần quan trọng của dữ liệu trong một kế hoạch dinh dưỡng và tập thể dục.

Không thể xác định chính xác tỷ lệ chất béo trong cơ thể sống, nhưng có một số phương pháp đã được phát triển để ước lượng mật độ cơ thể. Cách phổ biến nhất và đơn giản nhất được gọi là Chỉ số khối cơ thể (BMI), bao gồm việc sử dụng trọng lượng cơ thể và chiều cao để tạo ra một con số có thể so sánh với biểu đồ cơ sở. Các cá nhân có thể sử dụng chỉ số BMI để xác định mật độ cơ thể của họ ở mức lành mạnh hay không.

BMI không được các cơ quan y tế coi là thước đo mật độ xác định mật độ, mà là một công cụ sàng lọc để xác định những cá nhân có thể có quá nhiều mỡ cơ thể vì kích thước của chúng. Trong khi một công cụ hợp lý để ước tính cho hầu hết các loại cơ thể, BMI sẽ mất chính xác trong số những người có cơ bắp mạnh mẽ, vì cơ bắp nặng hơn kết quả béo phì. Ví dụ, các cơ sở thể hình thường thấy béo phì trên một chỉ số cơ thể do tỷ lệ trọng lượng / chiều cao, mặc dù cơ thể thiếu chất béo.

Các phương pháp khoa học khác, để ước lượng mật độ cơ thể bao gồm các phép đo lần da, phân tích trở kháng gần bằng hồng ngoại, đo năng lượng tia X năng lượng kép (DXA) và cân nặng dưới nước. Da gấp, tương tác cận hồng ngoại, và kỹ thuật BIA ít tốn kém hơn phương pháp DXA mới, nhưng ít chính xác hơn và có nhiều hạn chế hơn.

Phân tích da lần đầu là phương pháp lâu đời nhất và tiên tiến nhất, bao gồm việc sử dụng calipers gấp nếp da để đo lượng mô không nạc vượt quá trên cơ thể. BIA sử dụng mật độ mật độ xương, cơ và mỡ khác nhau để cung cấp mật độ mật độ bằng cách chạy dòng điện giữa hai dây dẫn đặt trên các bộ phận khác nhau của cơ thể và đánh giá tính kháng. Tương tác giữa hồng ngoại và cận cực liên quan đến việc chụp một chùm ánh sáng cận hồng ngoại qua các cơ của cánh tay trên. Ánh sáng được hấp thu bởi mô mỡ, nhưng phản xạ lại cơ. Do đó lượng ánh sáng thoát ra khỏi cánh tay là một dấu hiệu tốt cho thấy có bao nhiêu chất béo.

DXA hiện đang được coi là một kỹ thuật hàng đầu để ước lượng mật độ cơ thể. Hai loại máy X quang khác nhau – loại phát hiện tất cả các loại mô và chỉ phát hiện chất béo – quét cơ thể và chỉ ra mức độ mỡ của chất béo. DXA là một quá trình tương đối có liên quan so với các phương pháp khác. Nó thường được sử dụng kết hợp với một quy trình được gọi là cân nặng dưới nước, sử dụng nguyên lý nổi và sự khác biệt về trọng lượng đã biết giữa số lượng cơ và chất béo tương đương nhau để có kết quả đáng tin cậy.